PHÂN CHIA | NHÀ ĐẤT | LY HÔN HÓC MÔN | LUẬT SƯ LY HÔN HÓC MÔN | SỐ ĐIỆN THOẠI 0833999977
Câu hỏi: Tôi và chồng đang giải quyết ly hôn tại Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không yêu cầu Toà án phân chia tài sản. Chúng tôi có một căn nhà nhưng đứng tên của chồng tôi, nguồn gốc căn nhà là do chồng tôi kinh doanh bất động sản có lời rồi mua căn nhà này, vậy tôi không có đứng tên thì có yêu cầu Toà án phân chia tài sản là căn nhà này được không?
Luật sư: Cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi gửi đến đội ngũ Luật sư của chúng tôi. Dưới đây là nội dung tư vấn cho những thắc mắc của bạn.
A. NHÀ ĐẤT CHỈ ĐỨNG TÊN MỘT BÊN THÌ CÓ YÊU CẦU TOÀ ÁN PHÂN CHIA ĐƯỢC KHÔNG?
Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:
“Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”
Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.”
Khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định cụ thể như sau:
“3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”
Đối với trường hợp của bạn thì tài sản là nhà đất được chồng bạn mua trong thời kỳ hôn nhân, nhà đất chỉ đứng tên của chồng mà không có tên của bạn và nguồn tiền chính để mua nhà đất này là từ thu nhập của chồng bạn. Tuy nhiên, nguồn thu nhập để mua nhà đất này của chồng bạn phát sinh trong thời kỳ hôn nhân (không phải được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng…) do đó, căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành thì nhà đất này được xem là tài sản chung của vợ chồng bạn. Nếu chồng bạn cho rằng nhà đất này là tài sản riêng thì phải đưa ra căn cứ chứng minh, việc chứng minh là tài sản riêng phải có căn cứ pháp lý rõ ràng (Ví dụ: Vợ chồng có lập văn bản cam kết có công chứng hoặc chứng thực xác định nhà đất này được mua bằng tiền riêng của chồng bạn, không có liên quan gì đến bạn; Hoặc có cơ sở xác định nhà đất này chồng bạn được tặng cho riêng, thừa kế riêng…). Nếu không đưa ra được căn cứ chứng minh là tài sản riêng của mỗi bên thì khi giữa vợ chồng bạn xảy ra tranh chấp thì cơ quan giải quyết tranh chấp (Toà án nhân dân có thẩm quyền) sẽ xác định nhà đất này là tài sản chung, cho dù nhà đất này không đứng tên của bạn. Trường hợp không có tranh chấp thì tất cả mọi giao dịch liên quan đến nhà đất này theo quy định pháp luật sẽ phải được sự đồng ý của bạn hoặc có văn bản uỷ quyền của bạn cho chồng bạn đại diện xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch.
Tóm lại, việc chỉ một bên vợ hoặc chồng đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Thường gọi sổ đỏ, sổ hồng) không phải là cơ sở để xác định đây là tài sản riêng của người có tên trên giấy chứng nhận. Mà phải căn cứ vào nguồn gốc và quá trình hình thành nên tài sản này. Do đó, bạn hoàn toàn có thể yêu cầu Toà án giải quyết phân chia tài sản nếu tài sản này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân và không có cơ sở xác định đó là tài sản riêng của chồng bạn.
B. TÀI SẢN CHUNG CỦA VỢ CHỒNG ĐƯỢC PHÂN CHIA NHƯ THẾ NÀO?
Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:
1. HOÀN CẢNH CỦA GIA ĐÌNH VÀ CỦA VỢ, CHỒNG
“Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.
2. CÔNG SỨC ĐÓNG GÓP CỦA VỢ, CHỒNG VÀO VIỆC TẠO LẬP, DUY TRÌ VÀ PHÁT TRIỂN KHỐI TÀI SẢN CHUNG
“Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.
3. BẢO VỆ LỢI ÍCH CHÍNH ĐÁNG CỦA MỖI BÊN TRONG SẢN XUẤT, KINH DOANH VÀ NGHỀ NGHIỆP ĐỂ CÁC BÊN CÓ ĐIỀU KIỆN TIẾP TỤC LAO ĐỘNG TẠO THU NHẬP
“Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.
Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng.
4. LỖI CỦA MỖI BÊN TRONG VI PHẠM QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA VỢ CHỒNG
“Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.
Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.
Một số lưu ý khi phân chia tài sản chung:
– Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.
– Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Ví dụ: Khi chia nhà ở là tài sản chung và là chỗ ở duy nhất của vợ chồng, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì Tòa án xem xét và quyết định cho người vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanh toán giá trị tương ứng với phần tài sản được chia cho người chồng hoặc vợ nếu người vợ hoặc chồng có yêu cầu.
– Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.
PHÂN CHIA | NHÀ ĐẤT | LY HÔN HÓC MÔN | LUẬT SƯ LY HÔN HÓC MÔN | SỐ ĐIỆN THOẠI 0833999977

XEM THÊM
Chồng không đồng ý ký đơn có ly hôn được không ?
Trường hợp ngoại lệ cha được quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi
Hồ sơ khởi kiện ly hôn năm 2026