28 Tháng 5, 2026

Trang chủ » Lý do hồ sơ ly hôn bị trả lại – Luật sư ly hôn nhanh
Lý do hồ sơ ly hôn

Lý do hồ sơ ly hôn bị trả lại – Luật sư ly hôn nhanh

1.  Hồ sơ ly hôn thiếu giấy tờ

     Một trong những lý do hồ sơ ly hôn bị trả lại là hồ sơ không đầy đủ hoặc không hợp lệ. Theo Điều 189 và Điều 190 BLTTDS 2015, đơn khởi kiện phải đáp ứng đúng nội dung theo mẫu và phải được kèm theo các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu ly hôn.

     Trong thực tế, nhiều đương sự chỉ nộp đơn mà không gửi kèm chứng cứ, dẫn đến việc hồ sơ bị trả lại.

1.1  Hồ sơ ly hôn theo quy định và thực tiễn Tòa án yêu cầu:

    • Đơn xin ly hôn ( theo mẫu quy định).
    • Bản chính Giấy đăng ký kết hôn.
    • Bản sao có chứng thực CCCD hoặc hộ chiếu của hai vợ chồng.
    • Bản sao chứng thực giấy khai sinh của con ( nếu có con chung).
    • Tài liệu chứng minh về tài sản, nợ chung nếu có yêu cầu giải quyết ( sổ đỏ, sổ tiết kiệm, hợp đồng vay…).

Theo Khoản 5 Điều 189 BLTTDS quy định: người khởi kiện phải nộp tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm; nếu vì lý do khách quan không thể nộp đầy đủ thì phải nộp những tài liệu hiện có và bổ sung theo yêu cầu của Tòa trong quá trình giải quyết vụ án.

1.2  Sai sót thường xảy ra trong thực tế:

    • Không nộp bản chính Giấy đăng ký kết hôn hoặc chỉ nộp bản sao không chứng thực.
    • Có yêu cầu chia tài sản nhưng không nộp giấy tờ liên quan đến tài sản.
    • Có yêu cầu giành quyền nuôi con nhưng không cung cấp chứng cứ về điều kiện nuôi dưỡng ( thu nhập, nơi ở, môi trường sinh hoạt…).

Khi hồ sơ thiếu tài liệu, Tòa sẽ ra thông báo yêu cầu bổ sung. Nếu đương sự không bổ sung đúng hạn, đó là lý do hồ sơ ly hôn sẽ bị trả lại theo quy định.

2.  Nộp đơn sai Tòa án có thẩm quyền

     Một lỗi thường gặp khiến hồ sơ ly hôn bị trả lại là nộp đơn không đúng Tòa án có thẩm quyền. Căn cứ quy định Điều 39 BLTTDS 2015:

    • Ly hôn đơn phương: phải nộp tại Tòa án nơi bị đơn cư trú hoặc làm việc.

    • Ly hôn thuận tình: được nộp tại Tòa án nơi cư trú hoặc làm việc của một trong hai bên.

     Tuy nhiên, nhiều đương sự vẫn nộp đơn tại nơi mình đang ở, nơi tạm trú hoặc nơi hai vợ chồng từng sinh sống, dù bị đơn đã đổi nơi cư trú. Điều này dẫn đến việc Tòa án trả lại đơn theo Điểm đ Khoản 1 Điều 192 BLTTDS vì “ không thuộc thẩm quyền”.

3.  Không phân biệt ly hôn thuận tình và ly hôn đơn phương.

     Nhiều hồ sơ ly hôn bị trả lại do đương sự xác định không đúng loại thủ tục cần áp dụng. Thực tế, có trường hợp vợ chồng đã thống nhất đầy đủ về việc chấm dứt hôn nhân, nuôi con và phân chia tài sản nhưng vẫn nộp đơn theo thủ tục ly hôn đơn phương, khiến Tòa án phải yêu cầu sửa đổi hoặc nộp lại hồ sơ theo diện thuận tình.

     Ngược lại, khi giữa các bên vẫn còn tranh chấp về con chung hoặc tài sản mà lại nộp hồ sơ thuận tình ly hôn, Tòa án sẽ yêu cầu chuyển sang thủ tục đơn phương. Việc xác định không đúng thủ tục ngay từ đầu dẫn đến phải điều chỉnh hồ sơ, làm kéo dài thời gian thụ lý và  quá trình giải quyết vụ việc.

4.  Không chứng minh được tình trạng hôn nhân trầm trọng.

     Theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, người yêu cầu ly hôn đơn phương có nghĩa vụ chứng minh tình trạng hôn nhân đã rơi vào bế tắc, trầm trọng và mục đích hôn nhân không đạt được. Tuy nhiên, thực tế nhiều hồ sơ chỉ nêu lý do chung chung, thiếu các tài liệu chứng minh thiết yếu như: hồ sơ bạo lực gia đình, biên bản hòa giải tại địa phương, xác nhận ly thân hoặc các bằng chứng về mâu thuẫn kéo dài. Việc thiếu căn cứ này sẽ khiến Tòa án không có đủ cơ sở để thụ lý, dẫn đến việc yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ hoặc trả lại đơn khởi kiện.

5.  Không nộp hoặc nộp sai tiền tạm ứng án phí.

     Theo quy định tại Khoản 2 Điều 195 BLTTDS 2015, trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo, người khởi kiện có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai cho Tòa án. Việc thực hiện sai hoặc chậm trễ nghĩa vụ này mà không thuộc trường hợp được miễn, không phải nộp hoặc có trở ngại khách quan thì Tòa án sẽ căn cứ vào điểm d Khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 để trả lại đơn khởi kiện.

6.  Trường hợp không được phép ly hôn

     Căn cứ Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, chồng không được nộp đơn khi vợ:

    • Đang mang thai hoặc đang sinh con.
    • Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, bao gồm cả con đẻ hoặc con nuôi.

     Quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe và quyền lợi của mẹ và trẻ sơ sinh. Nếu vi phạm, Tòa án sẽ trả lại đơn hoặc không thụ lý dù hồ sơ đầy đủ.

VĂN PHÒNG LUẬT SƯ HÓC MÔN

Tìm hiểu thêm Mẫu đơn ly hôn thuận tìnhTại đây

Thông tin liên hệ:

Địa chỉ: Số 43 ấp Hậu Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, TP Hồ Chí Minh

Điện thoại: 0833999977

Website: http://Luatsuhocmon.com.vn